Hãy cùng điểm qua các dấu mốc thời gian gắn liền với những tác giả có công lao nghiên cứu và đóng góp vào sự phát triển của ngành Sinh trắc học dấu vân tay!

Nehemiah Grew, 1684

Nehemiah (1641-1712) là tiến sĩ, bác sĩ người Anh, nhà thực vật học, người phát minh ra kính hiển vi. Ông đã đăng bài báo khoa học đầu tiên mô tả cấu trúc đường vân của da ở các ngón tay và lòng bàn tay. Ông là người công bố những bản vẽ xuất sắc và chính xác về các dấu vân tay.

Govard Bidloo, 1685

Năm 1685, bác sĩ Govard Bidloo (1649-1713) người Hà Lan và bác sĩ Marcello Malpighi (1628-1694) người Ý đã xuất bản cuốn sách về giải phẫu, minh họa cấu trúc đường vân các ngón tay. Trong sách có viết: “Trên mỗi vân tay sẽ có những đặc điểm không thay đổi và sẽ có những điểm khác nhau ở mỗi người”.

Một thế kỷ sau, vào năm 1788, nhà giải phẫu học người Đức – Johann Christoph Andreas Mayer (1747-1801) nhận ra rằng, dấu vân tay là thứ duy nhất của mỗi cá nhân.

Marcello Malpighi, 1686

Marcello Malpighi là một nhà giải phẫu học người Ý. Ông giải thích dựa trên những phác thảo về đầu ngón tay, đó như là một nghiên cứu tổng thể của da người. Ông là người đầu tiên dùng kính hiển vi quan sát vân tay và ghi chép vào biên niên sử.

Năm 1686, Tiến sĩ Malpighi đưa ra luận thuyết về các loại vân tay: xoắn, móc, vòm trong dấu vân tay.

J.C.Mayer, 1788

Ông là người đầu tiên đưa ra thuyết cơ bản về phân tích vân tay và giả thuyết dấu vân tay là duy nhất. 

Jan E. Purkyně, 1823

Jan Evangelista Purkyně (1787-1869), nhà sinh lý học người Séc và là giáo sư về giải phẫu học tại Đại học Breslau.

Năm 1823, ông phát hiện ra tuyến mồ hôi và xuất bản một luận án công nhận 9 nhóm cấu hình chính của dấu vân tay bao gồm: arch, tented arch, ulnar loop, radial loop, peacock’s eye/compound, spiral whorl, elliptical whorl, circular whorl, và double loop/composite.

Georg von Meissner

Một vài năm sau công trình nghiên cứu của Purkyně, nhà giải phẫu học người Đức – Georg Meissner (1829 – 1905) nghiên cứu về đặc điểm đường vân. Ông là người nhận được giải Nobel Y học vào năm 1905.

 William James Herschel, 1877

Khi quan sát người Trung Quốc điểm chỉ, William James Herschel (1833-1917) đã tìm hiểu, nghiên cứu sâu và cho rằng: “Con người có thể già đi, khuôn mặt và hình dáng có thể bị thay đổi do tuổi tác và bệnh tật, nhưng đường vân trên đầu ngón tay vẫn không hề thay đổi”.

Sau đó, vào năm 1877, ông đã ứng dụng dấu vân tay vào các hợp đồng để ngăn ngừa sự thoái thác về sau. Ông đã cho đăng ký dấu vân tay các nhân viên chính phủ về hưu để ngăn chặn việc thu tiền của thân nhân sau cái chết của người về hưu. Herschel cũng lấy dấu vân tay các tù nhân sau khi tuyên án, để phòng ngừa việc chối tiền án, tranh chấp các hình thức phạt tù. Herschel được ghi nhận là người đầu tiên biết ứng dụng dấu vân tay một cách thực tế.

Henry Faulds và W.J Herschel 1880

Năm 1880, Tiến sĩ Henry Faulds (1843 – 1930), bác sĩ phẫu thuật tại một bệnh viện ở Tokyo, trong bài viết đăng trên tạp chí khoa học Nature đã khẳng định: “Dấu vân tay trên da người không thay đổi trong suốt đời người và có thể đây là phương tiện để nhận diện tốt hơn cả chụp ảnh”.

Henry Faulds đã đề xuất sử dụng vân tay như là phương thức độc đáo để xác định bản chất của con người. Ông đưa ra lý luận số lượng vân tay TFRC (Total Fingerpirnt Ridge Count) có thể dự đoán tương đối chính xác mối tương quan giữa dấu vân tay với gen di truyền của con người, đặc biệt là liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người.

Francis Galton, 1892 

Từ ý tưởng của Henry Faulds, Francis Galton (1822-1911) tiếp tục nghiên cứu sâu về vân tay. Trong ba cuốn sách (Dấu vân tay 1892; Giải mã 1893 và Vân tay thư mục 1895) ông đưa ra các kết luận:

“Các đường vân không thay đổi trong suốt cả quãng đời người.”

“Có thể chia những đường vân ra từng loại.”

“Tỉ lệ của một “dương tính giả” (tức hai cá nhân có cùng một dấu vân tay) là khoảng 1/64 tỷ người.”

Galton đã xuất bản 15 cuốn sách cùng nhiều bài viết khác. Ông là người đầu tiên phát hiện vai trò của vân tay trong lĩnh vực di truyền và sự khác biệt vân tay ở các chủng loại khác nhau. Ông đã đơn giản việc phân loại vân tay và chia vân tay thành 3 loại lớn: Whorl, Unal, Arch. Đó là hệ thống phân loại đầu tiên của dấu vân tay.

Hai tác phẩm Dấu vân tay (1892) và Vân tay thư mục”(1895) của Galton được coi như là tiêu chuẩn trong lĩnh vực Dermatoglyphics, kích thích sự tập trung của  các nhà điều tra khoa học về nhân chủng học, động vật học, di truyền học và tội phạm học.

Edward Henry, 1897

Edward Richard Henry (1850 -1931), Tổng Thanh tra Cảnh sát Bengal ở Ấn Độ. Chính ông đã kế thừa thành công sự nghiệp dở dang của Galton.

Từ giữa năm 1896 đến năm 1925, Henry tìm ra phương pháp phân loại, sắp xếp dấu vân tay để lưu trữ. Hệ thống phân loại của Henry là một phương pháp tiên tiến, các dấu vân tay được sắp xếp theo đặc điểm dễ tìm kiếm. Đó là cơ sở của phương pháp phân loại hiện đại – AFIS trong những năm 1990.

Harris Hawthorne Wilder, 1897

Ông là người Mỹ đầu tiên tìm hiểu về Dermatoglyphics. Và ông đã phát minh ra chỉ số Main Line, nghiên cứu thenar hypothenar eminence, khu II, III, IV.

Harold Cummins, 1926

Tiến sĩ Harold Cummins (1893 – 1976) nghiên cứu từng khía cạnh của phân tích dấu vân tay từ nhân học di truyền và phôi thai học. Năm 1943, ông xuất bản một cuốn sách có tựa đề In Finger, Palms được mệnh danh là Kinh Thánh trong lĩnh vực Sinh trắc học dấu vân tay.

Tiến sĩ Harold Cummins được xem là cha đẻ của ngành nghiên cứu Sinh trắc học dấu vân tay. Ông đưa ra lý luận chỉ số cường độ vân tay PI (Pattern Intensity). Giá trị RC, số lượng tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí hình dạng vân tay ở những ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người.

Ông nghiên cứu và chỉ ra rằng, dấu vân tay được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ. Dấu vân tay được hình thành một cách rõ ràng ở thai nhi từ 13 đến 19 tuần tuổi. Khi thai nhi ở giai đoạn 13 tuần tuổi các tế bào thần kinh phát triển nhanh chóng, khoảng 250.000 tế bào thần kinh được sản sinh ra mỗi phút. Một lần nữa, ông chứng minh dấu vân tay hình thành song song với quá trình phát triển của não bộ trong bào thai.

Các kỹ thuật nghiên cứu của ông được gọi là phương pháp Cummins và được chấp nhận rộng rãi, như một công cụ quan trọng trong việc vạch ra các mối quan hệ vốn có và tiến hóa.

Dermatoglyphics đã trở thành thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực nghiên cứu.

 Elizabeth Wilson, 1920

Bà phân tích tình trạng của dấu vân tay trong trường Đại học Columbia bằng cách sử dụng thống kê để kiểm tra sự khác biệt giữa dấu vân tay của những người tâm thần phân liệt, kém thông minh và những người bình thường.

Năm 1930, Hiệp hội nghiên cứu hình thái sinh lý học (viết tắt là SSPP: Society for the Study of Physiological Patterns) bắt đầu công trình nghiên cứu 5 chủng loại vân tay và những nét đặc trưng độc đáo của nó.

Julius Spier, 1944

Ông đã xuất bản cuốn sách với tựa đề Bàn tay của trẻ em và tiến hành phân tích về sự phát triển nhân cách tâm lý của trẻ em với sự giúp đỡ của phương pháp Dermatoglyphics.

Wilder Penfield, 1950

Nhà phẫu thuật thần kinh người Canada – Giáo sư Wilder Penfield công bố công trình “Biểu đồ mặt cắt của não bộ trong mối quan hệ với các bộ phận của cơ thể”, mô tả mối liên hệ giữa vân tay và cấu trúc não bộ.

Noel Jacquin, 1958

Ông đã nghiên cứu và phát hiện ra, mỗi vân tay sẽ tương ứng với một chủng loại tính cách đặc biệt.

Beryl Hutchinson MBE, 1967

Sau Noel Jacquin, Beryl là người kế nhiệm điều hành Hiệp hội nghiên cứu các loại hình sinh lý (Society for the Study of Physiological Patterns – SSPP) trên 30 năm.

Năm 1967, Berly Hutchinson (1891 – 1981) – Người đầu tiên phát hiện vân tay học có thể chứng minh đặc trưng tính cách bẩm sinh của mỗi người.

Sarah B. Holt, 1968

Ông viết cuốn sách với tựa đề Di truyền của Dermal Ridges xuất bản năm 1968. Ông nghiên cứu mô hình các vân tay của cả hai bàn tay và lòng bàn tay ở các dân tộc khác nhau, cả về đặc tính bẩm sinh và sự tác động của môi trường.

John J. Mulvihill, MD và David W. Smith, MD, 1969 xuất bản cuốn sách “Thiên tài qua vân tay”, cung cấp phiên bản mới nhất về sự hình thành của vân tay.

Beverly C. Jaegers, 1974

Bà nghiên cứu và đưa ra kết luận: Các ký hiệu vân tay hiển thị thể hiện đặc trưng tâm lý của con người.

Schamann và Alter, 1976

Hai người đã công bố cuốn sách viết về “Sinh trắc học dấu vân tay trong các rối loạn y tế”. Phương pháp này cũng đã được sử dụng trong nghiên cứu di truyền và chẩn đoán dị tật nhiễm sắc thể.

Liên Xô 1970s

Liên Xô sử dụng Sinh trắc học dấu vân tay trong việc lựa chọn các thí sinh cho kỳ thi Olympics.

Chen Yi Mou, 1985

Nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên Sinh trắc dấu vân tay được áp dụng trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.

Rita LeviMontalciniStanley Cohen, 1986

Giải Nobel trong lĩnh vực Sinh lý học đã được trao cho tiến sĩ Rita LeviMontalcini và Stanley Cohen nhờ phát hiện ra mối quan hệ giữa hệ số NGF (sinh trưởng thần kinh hình thành não) và hệ số EGF (sinh trưởng biểu bì hình thành vân tay). Hai hệ số này chứng minh rõ nét hơn cho mối liên hệ mật thiết giữa vân tay và não bộ.

 Năm 2004, Trung tâm IBMBS (Trung tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản hơn 7000 luận án về Sinh trắc vân tay.

Ngày nay, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan áp dụng Sinh trắc vân tay trong các lĩnh vực giáo dục với hy vọng sẽ cải thiện chất lượng giảng dạy và nâng cao hiệu quả học tập, bằng cách xác định các phong cách học tập khác nhau. Các nhà nghiên cứu khẳng định, độ chính xác của Sinh trắc vân tay rất cao, đó là khả năng dự báo từ các đặc tính của vân tay.

Năm 2011, Sinh trắc vân tay bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam và được đông đảo mọi người đón nhận. Đây được xem là một công cụ rất hữu hiệu trong việc khám phá ra tiềm năng não bộ, từ đó định hướng phát triển cho phù hợp với thế mạnh bản thân.

Như vậy, xuyên suốt dòng thời gian, chúng ta đã thấy được rằng lịch sử nghiên cứu về Sinh trắc học dấu vân tay có từ rất lâu đời. Thế kỷ XVII, các nhà khoa học phương Tây đã có những nghiên cứu về dấu vân tay, dần dần chứng minh được mối tương quan giữa dấu vân tay và não bộ. Thế kỷ XXI ngày nay, chúng ta có bước tiến mới trong việc ứng dụng những giá trị đó một cách thiết thực qua công nghệ Sinh trắc học dấu vân tay.

Sinh trắc học dấu vân tay là một ngành tổng hợp dựa trên nền tảng những ngành khoa học về di truyền học, tâm lý học, thần kinh học, phôi học và rất nhiều ngành khác có liên quan để tìm ra được mối tương quan mật thiết giữa vân tay và não bộ.

Linda Nga