Sinh trắc học dấu vân tay là một bộ môn khoa học nghiên cứu mối tương quan giữa vân tay và não bộ. Thông qua dấu vân tay có thể phân tích tiềm năng bộ não, chúng ta hãy cùng ngược dòng thời gian để xem các nhà khoa học họ đã nghiên cứu, tìm ra mối liên hệ này như thế nào nhé!

Năm 1879, từ nhân trắc học gắn với công lao của Alphonse Bertillon (1853 – 1914) ở Pháp. Phương pháp sinh trắc học hay “Biometric” của ông sau này được chép lại dưới tên “phương pháp ảnh lời” hay phương pháp nhân học. Nhưng biện pháp này khó chính xác, phức tạp khi tiến hành và đòi hỏi nhiều thời gian nên sau này các phép đo đã được thay thế từ năm 1897 bằng hệ thống vân tay.

Nhận dạng vân tay, được gọi là dematoglyphics. Hơn 40.000 công trình nghiên cứu đã được viết về ý nghĩa của mô hình dấu vân tay. Nhiều khám phá quan trọng đã được thực hiện liên quan đến ý nghĩa tâm lý của mẫu vân tay.

Kết quả khảo cổ đã chứng minh: từ rất xa xưa dấu vân tay đã được sử dụng như là chữ ký cá nhân tại Babylon cổ đại trong thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên. Dưới triều vua Hammurabi (1792 tCn-1750 tCn) người ta đã tiến hành lấy dấu vân tay của những người bị bắt giữ. Trong giao dịch dân sự, để bảo vệ chống lại sự giả mạo, các bên tham gia hợp đồng ấn dấu vân tay của mình vào viên đất sét trên hợp đồng đã được viết.

Dấu vân tay được người Trung Hoa, Nhật Bản sử dụng để xác nhận các khoản vay, các đồ gốm từ trước Công nguyên rất lâu. Từ thời Tần (秦朝, 248 tCn-207 tCn), các quan chức đã biết in tay, in chân cũng như in ngón tay làm bằng chứng từ hiện trường vụ án. Sau này quan lại đã ấn dấu vân tay của họ vào các con dấu bằng đất sét được sử dụng trong các tài liệu khi lụa và giấy (105 bởi Thái Luân) được phát minh. Vào thế kỷ XIII, bác sĩ Ba Tư là Rashid al- Din Hamadani (1247-1318) đề cập đến việc Trung Quốc xác định người thông qua dấu vân tay của họ. Ông nhận xét: “Kinh nghiệm cho thấy rằng không có hai cá nhân có ngón tay hoàn toàn giống nhau”. Nhưng việc nghiên cứu vân tay, dâu vết vân tay một cách khoa học, viết thành sách lại thuộc về người châu Âu.

  • Tiến sĩ Nehemiah Grew, 1684
    Năm 1684, bác sĩ người Anh, nhà thực vật học, người phát minh ra kính hiển vi là Nehemiah (1641-1712) đã đăng một bài báo khoa học đầu tiên mô tả cấu trúc đường vân của da ở các ngón tay và lòng bàn tay. Ông là người công bố bản vẽ xuất sắc và chính xác của các dấu vân tay.
    Tiến sĩ Nehemiah Grew là thành viên của xã hội Hoàng gia và các trường đại học của các bác sĩ.  Năm 1684, ông cũng đã giới thiệu Finger Prints, Palms and Soles đến Hội Hoàng gia.
  • Gouard Bidloo, 1685
    Cuốn sách đầu tiên về vân tay học được xuất bản. Năm 1685, bác sĩ người Hà Lan là Govard Bidloo (1649-1713) và bác sĩ người Ý là Marcello Malpighi (1628-1694) cho ra đời cuốn sách về giải phẫu cũng được minh họa cấu trúc đường vân các ngón tay và các ông viết: “trên đó có những đặc điểm không thay đổi và khác nhau ở mối người”. Một thế kỷ sau, vào năm 1788, giải phẫu học người Đức Johann Christoph Andreas Mayer (1747-1801) nhận ra rằng dấu vân tay là duy nhất cho từng cá nhân.
  • Marcello Malpighi, 1686
    Marcelli là một nhà giải phẫu học người Ý và hiển vi người giải thích rằng những phác thảo trên đầu ngón tay như một nghiên cứu tổng thể của da người. Ông cũng được coi là người đàn ông đầu tiên dung kính hiển vi quan sát vân tay  và ghi chép vào biên niên sử. Năm 1686: Tiến sĩ Marcello Malpighi (1628-1694) đưa ra luận thuyết về các loại vân tay: xoắn, móc, vòm trong dấu vân tay.
  • Năm 1788, J.C.Mayer
    Ông là người đầu tiên đưa ra thuyết cơ bản về phân tích vân tay và giả thuyết rằng dấu vân tay là duy nhất.
  •  John E. Purkinji 1823
    Jan Evangelista Purkyně Purkinje (1787-1869), nhà sinh lý học Séc và là giáo sư về giải phẫu học tại Đại học Breslau. Ông phát hiện ra tuyến mồ hôi vào năm 1833 và xuất bản một luận án mà công nhận 9 nhóm cấu hình chính của dấu vân tay trong 1823. Chín nhóm vân tay chính: arch, tented arch, ulnar loop, radial loop, peacock’s eye/compound, spiral whorl, elliptical whorl, circular whorl, và double loop/composite.
  • Georg von Meissner
    Một vài năm sau công trình nghiên cứu của Purkinji, nhà giải phẫu học người Đức là Georg von Meissner (1829-1905) nghiên cứu đặc điểm đường vân.
  • 1877, William James Herschel (1833 – 1917)
    Khi quan sát người Trung Quốc điểm chỉ đã đi sâu nghiên cứu và cho rằng “Con người có thể già đi, khuôn mặt và hình dáng có thể bị thay đổi do tuổi tác và bệnh tật, nhưng đường vân trên đầu ngón tay vẫn không hề thay đổi”.Sau đó, vào năm 1877 tại Hooghly (gần Calcutta) ông đã áp dụng sử dụng dấu vân tay trên các hợp đồng để ngăn ngừa sự thoái thác sau, ông đã cho đăng ký dấu vân tay các nhân viên chính phủ về hưu để ngăn chặn việc thu tiền của thân sau cái chết của người về hưu. Herschel cũng lấy dấu vân tay các tù nhân sau khi tuyên án để phòng ngừa việc chối tiền án, tránh chấp hành hình phạt tù. Ông được ghi nhận là người đầu tiên sử dụng dấu vân tay một cách thực tế.
  • Henry Faulds và J Herschel 1880
    Năm 1880 Tiến sĩ Henry Faulds (1843 – 1930), bác sĩ phẫu thuật tại một bệnh viện Tokyo, trong các tạp chí khoa học Nature đã khẳng định: “dấu đường vân trên da người không thay đổi trong suốt cả đời người và có thể là phương tiện nhận diện tốt hơn chụp ảnh”.Henry Faulds đã đề xuất sử dụng vân tay như là phương thức độc đáo để xác định bản chất của con người. Ông đưa ra lý luận số lượng vân tay TFRC (Total Fingerpirnt Ridge Count) có thể dự đoán tương đối chính xác mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của con người được thừa kế trong đó có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người.
  • 1892 Sir Francis Galton
    Từ ý tưởng của Henry Faulds qua người bà con là Charles Darwin (1809 – 1882), Francis Galton (1822-1911) tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu vân tay. Trong ba cuốn sách (Dấu vân tay, năm 1892; Giải mã ?, năm 1893 và Mục vân tay, năm 1895) ông kết luận: “các đường vân không thay đổi trong suốt cả quãng đời người, có thể chia những đường vân đó ra từng loại”, “cơ hội của một “dương tính giả” (hai cá nhân khác nhau có cùng một dấu vân tay) là khoảng 1 trong 64 tỷ người”. Kết quả nghiên cứu khoa học của ông đã được Toà án chấp nhận.Ông đã xuất bản 240 giấy tờ và 15 cuốn sách, là người đầu tiên phát hiện vai trò của vân tay trong lĩnh vực di truyền và sự khác biệt vân tay ở những chủng tộc khác nhau. Ông đã đơn giản hoá việc phân loại vân tay và chia vân tay thành 3 loại lớn: Whorl, Unal, Arch. Đó là hệ thống phân loại đầu tiên cho dấu vân tay.Hai tác phẩm “Dấu vân tay” (1892) và “Vân tay Thư mục ‘(1895) của Galton được coi như là tiêu chuẩn trong lĩnh vực DERMATOGLYPHICS và kích thích sự tập trung của các nhà điều tra khoa học đa dạng, chẳng hạn như nhân chủng học, động vật học, di truyền học và tội phạm học.
  • Sir Edward Henry, 1897
    Edward Richard Henry (1850 -1931), Tổng Thanh tra Cảnh sát Bengal ở Ấn Độ. Chính ông đã kế thừa thành công sự nghiệp dở dang của Galton, tìm ra phương pháp phân loại, sắp xếp dấu vân tay để lưu trữ giữa 1896 năm và 1925. Hệ thống phân loại Henry là một phương pháp tiên tiến mà dấu vân tay được sắp xếp theo đặc điểm dễ tìm kiếm. Nó là cơ sở của phương pháp hiện đại phân loại AFIS cho đến những năm 1990.
  •  Harris Hawthorne Wilder 1897
    Ông là người Mỹ đầu tiên học về Dermatoglyphics. Ông đã phát minh ra chỉ số Main Line, nghiên cứu thenar hypothenar eminence, khu II, III, IV.
  •  Harold Cummins, 1926
    Tiến sĩ Harold Cummins nghiên cứu từng khía cạnh của phân tích dấu vân tay, từ nhân học di truyền và đến thời điểm phôi của xem. Năm 1943, ông xuất bản một cuốn sách gọi là In Finger, Palms được gọi là Kinh Thánh trong lĩnh vực DERMATOGLYPHICS.

    Tiến sĩ Harold Cummins được xem là cha đẻ của ngành nghiên cứu khoa học dấu vân tay đưa ra lý luận chỉ số cường độ vân tay PI (Pattern Intensity). Giá trị RC, số lượng tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí hình dạng vân tay ở những ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người. Ông nghiên cứu ra rằng dấu vân tay được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ. Dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi. Vào giai đọan trước đó, thai nhi không có dấu vân tay đồng thời não bộ cũng chỉ trong giai đoạn hình thành. Khi thai nhi được 19 tuần tuổi cũng là lúc các vùng chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não.Các kỹ thuật nghiên cứu của ông được gọi là phương pháp Cummins được chấp nhận rộng rãi như là một công cụ quan trọng trong việc vạch ra các mối quan hệ vốn có và tiến hóa. DERMATOGLYPHICS sau đó đã trở thành thông tin chuyên ngành trong lĩnh vực nghiên cứu.
  • Elizabeth Wilson, 1920
    Bắt đầu phân tích tình trạng của hạt khoa học trong trường Đại học Columbia bằng cách sử dụng thống kê để kiểm tra sự khác biệt giữa con người với tâm thần phân liệt, thông minh thấp và những người bình thường.
  • Năm 1930, Hiệp hội nghiên cứu hình thái sinh lý học (viết tắt là SSPP: Society for the Study of Physiological Patterns) bắt đầu công trình nghiên cứu 5 chủng loại vân tay và những nét đặc trưng độc đáo của nó.
  • 1944 Tiến sĩ Julius Spier
    Ông đã xuất bản cuốn sách gọi là Bàn tay của trẻ em, và tiến hành phân tích bằng cách sử phát triển nhân cách tâm lý của trẻ em với sự giúp đỡ của phương pháp DERMATOGLYPHICS.
  • 1950 Giáo sư Wilder Penfield
    Nhà phẫu thuật thần kinh người Canada – Giáo sư Wilder Penfield công bố công trình “Biểu đồ mặt cắt của não bộ trong mối quan hệ với các bộ phận của cơ thể, mô tả mối liên hệ giữa vân tay và cấu trúc não bộ.
  • Noel Jaquin, 1958
    Ông đã nghiên cứu và phát hiện ra mỗi vân tay sẽ tương ứng với một chủng loại tính cách đặc biệt.
  • Beryl Hutchinson MBE, 1967
    Sau Noel Jacqui, bà là người kế nhiệm điều hành Hiệp hội nghiên cứu các loại hình sinh lý (Society for the Study of Physiological Patterns – SSPP) trên 30 năm. Năm 1967, Berly B.Hutchison (1891 – 1981) – Người đầu tiên phát hiện vân tay học có thể chứng minh đặc trưng tính cách bẩm sinh của mỗi người.
  • 1968 Sarah B.Holt
    Ông viết quyển sách ‘Di truyền của Dermal Ridges “được xuất bản vào năm 1968, tổng kết nghiên cứu của mình trong các DERMATOGLYPHICS mẫu vân tay và lòng bàn tay ở những người khác nhau, cả hai bình thường và sinh ra đã bị ảnh hưởng. Ông cũng nghiên cứu mô hình các vân tay của cả hai bàn tay và lòng bàn tay ở các dân tộc khác nhau cả về đặc tính bẩm sinh và sự tác động của môi trường.
  • Năm 1969, John J. Mulvihill, MD và David W. Smith, MD xuất bản cuốn “Thiên tài qua vân tay”, cung cấp phiên bản mới nhất về sự hình thành của vân tay.
  • Năm 1974, Beverly C.Jaegers
    Bà nghiên cứu và đưa ra kết luận các ký hiệu vân tay hiển thị trên bàn tay thể hiện đặc trưng tâm lý của con người.
  • 1976 SCHAUMANN và Alter
    Sách về DERMATOGLYPHICS trong các rối loạn y tế đã được công bố. DERMATOGLYPHICS cũng đã được sử dụng trong nghiên cứu di truyền và chẩn đoán dị tật nhiễm sắc thể.
  • Liên Xô 1970s
    Liên Xô sử dụng DERMATOGLYPHICS trong việc lựa chọn các thí sinh cho Olympics.
  • Năm 1980 Trung Quốc
    Trung Quốc tiến hành công tác nghiên cứu tiềm năng con người, và tài năng trong quan điểm hệ gen của con người.
  • Năm 1985, Tiến sĩ Chen Yi Mou – Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.
  • Năm 1986, giải Nobel trong lĩnh vực sinh lý học đã được trao cho tiến sĩ Rita LeviMontalciniStanley Cohen nhờ phát hiện ra mối quan hệ giữa hệ số NGF (sinh trưởng thần kinh hình thành não) và hệ số EGF (sinh trưởng biểu bì hình thành vân tay). Hai hệ số này chứng minh rõ nét hơn cho mối liên hệ mật thiết giữa vân tay và não bộ.
  • Năm 2004, Trung tâm IBMBS (Trung tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản hơn 7000 luận án về Sinh trắc vân tay. Ngày nay, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan áp dụng Sinh trắc vân tay đến các lĩnh vực giáo dục, hy vọng sẽ cải thiện chất lượng giảng dạy và nâng cao hiệu quả học tập bằng cách xác định các phong cách học tập khác nhau. Các nhà nghiên cứu khẳng định độ chính xác của Sinh trắc vân tay rất cao, đó là khả năng dự báo từ các tính năng của tay.
  • Năm 2011, sinh trắc vân tay bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam và được đông đảo người dân đón nhận. Đây được xem là một công cụ rất hữu hiệu trong việc khám phá ra tiềm năng não bộ, từ đó định hướng phát triển cho phù hợp với thế mạnh bản thân.

Như vậy thì Sinh trắc học dấu vân tay có cơ sở khoa học tuyệt đối với hơn 300 năm nghiên cứu và phát triển bởi các nhà khoa học. Sinh trắc vân tay là sự tổng hợp dựa trên các kiến thức căn bản về di truyền học, phôi học, tâm lý học, khoa học thần kinh…để tìm ra mối tương quan mật thiết giữa vân tay và não bộ.