Để tìm hiểu về lí do ra đời của ngành sinh trắc dấu vân tay, chúng ta cần phải quay ngược thời gian trở về thế kỷ thứ XIV. Khi ấy, những người Trung Quốc đã dùng mực bôi đen chân tay để in lên giấy làm dấu hiệu nhận dạng người. Đây được xem là thủy tổ của sinh trắc học vân tay. Sau đó, vào tháng 7 năm 1858, William Herschel – một vị quan người Anh tại Ấn Độ đã dùng phương pháp tương tự để yêu cầu một thương gia bản xứ điểm chỉ lên mặt sau của tờ hợp đồng thay cho lời xác nhận.

Trong vài năm trở lại đây, phương pháp trắc nghiệm vân tay hay còn gọi là sinh trắc học dấu vân tay rất phổ biến. Vậy sinh trắc học vân tay là gì? Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu sinh trắc học là gì? Tại sao lại là sinh trắc học dấu vân tay?

Sinh trắc học hay Công nghệ sinh trắc học (tiếng Anh: Biometric) là công nghệ sử dụng những thuộc tính vật lý, đặc điểm sinh học riêng của mỗi cá nhân như vân tay, mống mắt,khuôn mặt… để nhận diện. Đây được coi là công cụ xác thực nhân thân hữu hiệu nhất mà người ta sử dụng, phổ biến vẫn là nhận dạng vân tay bởi đặc tính ổn định và độc nhất của nó.

Sinh trắc học dấu vân tay

Qua nghiên cứu và trên thực tế cho thấy dấu vân tay có những đặc tính sau:

– Tính riêng biệt (không có ai giống nhau và ở mỗi người thì mỗi vùng, mỗi ngón lại có hình thái, đặc điểm riêng). Theo cách tính toán của một giáo sư để tìm thấy 2 đặc điểm giống nhau phải xét đến 16 vân tay cùng loại; 3 đặc điểm giống nhau phải xét đến 64 dấu vân tay cùng loại; 4 đặc điểm giống nhau phải xét đến 256 dấu vân tay cùng loại; chưa tìm thấy 5 đặc điểm trùng nhau của các dấu vân tay cùng loại. Galton cũng đã nghiên cứu hàng triệu dấu vân tay, khẳng định: đến khi trái đất này có 64 tỉ người, hoạ chăng mới có một sự trùng lặp ngẫu nhiên về dấu vân tay của 2 người khác nhau. Kết luận này ông viết khi trên trái đất mới có 1,5 tỉ người.

– Tính ổn định (trong suốt cuộc đời về số lượng, chiều hướng, hình dạng, vị trí, đặc điểm riêng…Chúng chỉ thay đổi về kích thước theo sự lớn lên của cơ thể);

– Tính phục hồi (khi lớp da ngoài bị tổn thương thì lớp trong sẽ thay thế đủ các hình dạng đường vân như cũ).

Chính cơ sở đó mà dấu vân tay được xem là phương pháp sinh trắc hữu hiệu nhất hiện nay. Dấu vân tay là dấu ấn độc đáo riêng có của mỗi cá nhân.

DERMATOGLYPHICS là thuật ngữ dành riêng cho sinh trắc học dấu vân tay, được phát minh vào năm 1926 bởi Tiến sĩ Harold Cummins, được xem là cha đẻ của ngành khoa học nghiên cứu dấu vân tay.

DERMATOGLYPHICS (từ Hy Lạp cổ derma = da, glyph = khắc) là khoa học nghiên cứu dấu vân tay. Phương pháp Sinh trắc học Dấu vân tay phân tích cấu trúc, cường độ, mật độ dày đặc, độ dài – ngắn, các khúc quanh, hình dạng của vân tay. DERMATOGLYPHICS đề cập đến sự hình thành các đường vân tự nhiên trên đầu ngón tay có mối liên hệ với não bộ, thông qua đó để phân tích chỉ số TFRC (Total Fingerpirnt Ridge Count)  và các năng lực tiềm ẩn của não bộ. Là một thuật ngữ, DERMATOGLYPHICS được sử dụng để nói về khoa học sinh trắc dấu vân tay, phân biệt với các hình thức bói toán, giả khoa học.

Dấu vân tay được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu, tuy nhiên đến năm 1926 Tiến sĩ Harold Cummins lần đầu tiên thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa sự hình thành và phát triển các mô hình trên lòng bàn tay và sự phát triển của bộ não trong năm. Ông được xem là cha đẻ của Dermatoglyphics. Phương pháp Cummins là công nghệ đầu tiên được sử dụng để biểu diễn các hệ gen và các mối quan hệ tiến hóa. Ông cũng xuất bản ‘Finger Prints, Palms and Soles’ vào năm 1943 được xem là kinh thánh của ngành.

Dermatoglyphics tích hợp phân tích khoa học não, tâm lý học, y học, di truyền học và khoa học hành vi. Dựa trên phong cách học tập của Dermatoglyphics, suy nghĩ, khả năng tiềm năng có thể được phát hiện và tập trung học tập có thể được thiết lập.

Các nhà khoa học đã khám phá ra rằng số lượng tế bào não phân bố ở các phần khác nhau của não giúp chúng ta hiểu được trí thông minh của nhiều người cũng như khả năng và tính cách tiềm năng bẩm sinh của mình. Dấu vân tay của chúng tôi tiết lộ cho chúng ta những gì chúng ta cần và cách chúng ta học hỏi, biến đổi cuộc sống của chúng ta thông qua một phương pháp giáo dục toàn diện. Nghiên cứu này có cơ sở khoa học tuyệt đối, với nhiều năm nghiên cứu. Nó được phân tích và chứng minh bằng chứng về nhân học, di truyền học, y học và thống kê.